Hỗ trợ doanh nghiệp: Làm sao cho trúng và đúng!

Những con số về tăng trưởng GDP trong 9 tháng năm 2021 vẫn chưa phản ánh hết khó khăn của nền kinh tế, của cộng đồng DN, người dân đang phải đối mặt.

Đó là nhận định của các chuyên gia tại hội thảo “Đánh giá tình trạng kinh tế Việt Nam năm 2021 và dự báo những rủi ro cho năm 2022” do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức sáng 18/10.

GDP có thể chỉ tăng 1,8 – 2%

Trong gần 3 tháng qua, dịch bệnh đã khiến nhiều địa phương – trong đó có những trung tâm kinh tế lớn của đất nước phải đóng cửa, thực hiện giãn cách xã hội, nhiều chuỗi sản xuất bị đứt gãy… Do vậy, con số tăng trưởng GDP âm 6,17% trong quý III không hề bất ngờ.

“Thậm chí, những số liệu thống kê trên vẫn chưa phản ánh hết những khó khăn mà DN đang gặp phải. Dù con số này được xem là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay” – TS Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Việt Nam nhận định.“Tất nhiên, nước nào cũng chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, nhưng các nước đã đi vào quỹ đạo ổn định họ tự tin mở lại còn Việt Nam vẫn rất khó khăn” – ông Thành nói. Biểu hiện rõ là các DN không sản xuất được, người lao động thất nghiệp, số liệu cho thấy hiện lao động mất việc làm tăng lên, dẫn đến sản xuất bị đình đốn.Cũng theo ông Thành, do dịch bùng lên khiến Việt Nam lỡ nhịp hồi phục từ cuối năm 2020, thời điểm đó Việt Nam là điểm sáng tăng trưởng. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc Việt Nam chậm chiến lược tiêm vaccine có thể dẫn tới mất lợi thế tương đối. Và hệ quả là hiện sức chịu đựng của DN đã tới hạn, nhiều đơn vị rơi vào tình cảnh sức cùng lực kiệt, đầu tư và tiêu dùng theo đó cũng bị đứt gãy, suy giảm trầm trọng. Đến hết quý III/2021, mức độ tiêm vaccine của Việt Nam so với thế giới vẫn nằm ở mức dưới trung bình. Trong khi các nước như Trung Quốc, Campuchia, Nhật Bản, Malaysia… sử dụng vaccine sớm hơn.

Chính phủ đã đưa ra quyết sách sống chung an toàn với dịch Covid-19, tuy nhiên hiện nay nhiều địa phương vẫn đang duy trì các điều kiện chống dịch rất nghiêm ngặt. Việc DN mở cửa sản xuất trở lại sẽ có độ trễ nhất định 1 – 2 tháng, thậm chí lâu hơn do thiếu nguồn lao động, thiếu vốn… Trong khi đó, tình hình thế giới, rủi ro đầu vào giá nguyên liệu tăng. Lạm phát tiềm ẩn, điều lo ngại là giá lương thực thực phẩm tăng trở lại (thiếu cung, cầu mở rộng, thiên tai, mưa lũ bão lụt…).

Từ những phân tích trên, các chuyên gia của VEPR đưa ra 2 kịch bản tăng trưởng khi kết thúc năm 2021. Ở kịch bản cao: Cả nước thống nhất các biện pháp thích ứng với bệnh dịch và vẫn đảm bảo sản xuất, lưu thông hàng hóa không bị đứt gãy từ quý IV/2021. Các hoạt động sản xuất tiêu dùng dần được hồi phục. Các trung tâm kinh tế hoàn thành kế hoạch tiêm chủng ngay trong nửa đầu quý IV, và mở rộng ra các tỉnh trong những tháng cuối năm.

Ở kịch bản này, GDP sẽ tăng ở mức 1,8 – 2%. Ở kịch bản thấp: Chính sách tiếp tục thiếu đồng bộ. Bệnh dịch có khả năng tái phát ở một số địa phương dẫn tới việc phải thực hiện hạn chế đi lại. Tình trạng “đóng – mở” lặp lại ở một số nơi xuất hiện các ca nhiễm tăng tính bất định cho sản xuất. Thiếu hụt lao động diễn ra đến hết quý I/2022. Chi phí tăng cao khiến nhiều ngành thu hẹp, DN tiếp tục đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, và GDP sẽ chỉ ở mức thấp 0,2%.

Đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng

Các chuyên gia của VEPR khuyến nghị một số chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng trong thời gian tới. Cụ thể, đặt ưu tiên đẩy nhanh tiến độ quy mô tiêm chủng về các địa phương; khai thông đi lại và lưu thông hàng hóa. Thực hiện các gói tài khóa tập trung vào củng cố hạ tầng, trang thiết bị y tế, lực lượng y bác sĩ đồng thời hỗ trợ người lao động mất việc (đặc biệt trong khu vực phi chính thức)… Tăng cường chuyển đổi số. Thực hiện chính sách tiền tệ thích ứng, tức đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế nhưng kiểm soát tăng trưởng cung tiền quanh mức 10%, đi kèm với kiểm soát rủi ro ở mức vừa phải.

Nói về chính sách tiền tệ, chuyên gia kinh tế trưởng của VEPR – PGS.TS Phạm Thế Anh đặc biệt nhấn mạnh đến ”bước đệm” chống rủi ro. Theo ông, hiện tiền gửi rất thấp, ngân hàng không huy động được vốn, tiền đổ vào bất động sản, chứng khoán rất lớn. Lạm phát tiềm ẩn, nợ xấu tăng. Như vậy, dư địa của chính sách tiền tệ rất hẹp. Khả năng hạ lãi suất tiếp gần như là không có. Và theo PGS TS Phạm Thế Anh, hỗ trợ của nền kinh tế nếu có chủ yếu sẽ là chính sách tài khóa.

Về các gói hỗ trợ của Chính phủ, trong bối cảnh DN, người lao động chịu tác động nặng nề bởi đại dịch thì việc triển khai kịp thời các gói hỗ trợ là rất cần thiết để tiếp thêm nguồn lực cho họ. Song, các chuyên gia cũng thẳng thắn cho rằng, một thực tế là các gói hỗ trợ vừa qua vẫn đang triển khai trên quy mô nhỏ, chưa trúng đối tượng cần kích thích. Nhiều DN phản ánh chưa thể tiếp cận, hoặc có nhận được hỗ trợ thì vẫn còn quá nhỏ để vượt qua khó khăn, tái thiết lại sức sản xuất. Theo đó, các gói hỗ trợ cần đảm bảo hiệu quả thực tiễn, hỗ trợ đúng địa chỉ, đúng đối tượng để kích thích phát triển nền kinh tế sau đại dịch.

Theo KTĐT