Nghị định 18: Nới rộng quy định miễn thuế

Nghị định 18/2021/NĐ-CP (sau đây gọi tắt Nghị định 18) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 134/2016/NĐ-CP (gọi tắt Nghị định 134) hướng dẫn quy định Luật Thuế XK, thuế NK đã có nhiều điểm mới như quy định miễn thuế đã tạo điều kiện thu hút đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Nghị định 18: Nới rộng quy định miễn thuế
Công chức Hải quan Ninh Bình (Cục Hải quan Hà Nam Ninh) kiểm tra hàng hóa NK. Ảnh: H.Nụ

Nghị định 18 đã sửa đổi quy định về định mức miễn thuế đối với quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho cơ quan, tổ chức Việt Nam được ngân sách nhà nước (NSNN) bảo đảm kinh phí hoạt động theo pháp luật về NSNN và được cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp nhận hoặc quà biếu, quà tặng vì mục đích nhân đạo, từ thiện là toàn bộ trị giá của quà biếu, quà tặng để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK.

Theo đó, Nghị định 18 quy định quà biếu, quà tặng có số lượng hoặc trị giá vượt quá định mức miễn thuế nhưng trường hợp đơn vị nhận là cơ quan, tổ chức được NSNN bảo đảm kinh phí hoạt động và được cơ quan có thẩm quyền cho phép tiếp nhận hoặc trường hợp vì mục đích nhân đạo, từ thiện thì được miễn thuế toàn bộ trị giá của quà biếu, quà tặng.

Để hạn chế vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, đặc biệt là khi XK tại chỗ sản phẩm gia công, Nghị định 18 đã sửa đổi, bổ sung làm rõ quy định sản phẩm gia công XK được miễn thuế được quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 134 (bao gồm cả XK ra nước ngoài hoặc XK vào khu phi thuế quan, XK tại chỗ) để phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK.

Riêng với quy định tại Điều 11 Nghị định 134 về miễn thuế đối với hàng hóa XK để gia công, sản phẩm gia công NK, đại diện Cục Thuế XNK cho biết, tại khoản 6 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK quy định: Hàng hoá XK để gia công sau đó NK được miễn thuế XK và thuế NK được tính trên phần trị giá của nguyên vật liệu XK cấu thành sản phẩm gia công. Đối với hàng hoá XK để gia công sau đó NK là tài nguyên, khoáng sản, sản phẩm có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì không được miễn thuế.

Tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 134 quy định liên quan đến vấn đề này nhằm hạn chế việc lợi dụng chính sách ưu đãi để XK tài nguyên, khoáng sản trong nước theo hình thức gia công XK rồi NK trở lại sản phẩm đã qua chế biến.

Tuy nhiên, theo nguyên tắc và mục đích của thuế XK là hạn chế việc XK tài nguyên, khoáng sản có nguồn gốc trong nước để bảo vệ nguồn tài nguyên không tái tạo trong nước, giảm ô nhiễm môi trường, Nghị định 18 đã bổ sung quy định loại trừ phế liệu tạo thành trong quá trình sản xuất, gia công XK từ hàng hóa NK quy định tại Điều 10, Điều 12 để phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc tái sử dụng các sản phẩm là phế liệu tạo thành trong quá trình sản xuất, gia công XK từ hàng hóa NK, đồng thời xử lý vướng mắc phát sinh trong thực tế.

Cũng theo đại diện Cục Thuế XNK, liên quan đến miễn thuế hàng hóa NK để tạo tài sản cố định của đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, tại Điều 14 Nghị định 134 không quy định cơ sở để xác định đối tượng miễn thuế. Do đó, Nghị định 18 đã bổ sung cơ sở để xác định đối tượng miễn thuế nhằm xác định chính xác đối tượng được miễn thuế theo quy định tại khoản 11 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK và phù hợp với Luật Đầu tư. Tương tự, Điều 15 Nghị định 134 cũng được sửa đổi, bổ sung để thống nhất với quy định tại khoản 13 Điều 16 Luật thuế XK, thuế NK và Luật Đầu tư, Nghị định 118/20215/NĐ-CP.

Đối với quy định tại Điều 28 Nghị định 134 về miiễn thuế đối với hàng hóa XNK để phục vụ đảm bảo an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp đặc biệt khác, theo đại diện Cục Thuế XNK, tại khoản 1 đã bổ sung 2 đối tượng miễn thuế là mặt hàng trầm hương được sản xuất từ cây dó bầu trồng và mặt hàng da trăn có nguồn gốc từ gây nuôi sinh sản; sản phẩm nông sản chưa qua chế biến phù hợp với thẩm quyền ban hành các quy định hiện hành.

Đại diện Cục Thuế XNK cho biết, qua triển khai thực hiện hồ sơ miễn thuế đối với hàng hóa XNK trong các trường hợp khác đã phát sinh vướng mắc từ thực tế, do đó, Nghị định 18 cũng đã bổ sung quy định này tại Điều 15. Nghị định 18 cũng đã bổ sung quy định về thủ tục miễn thuế đối với hàng hóa XNK được nêu tại khoản 5 Điều 15 Nghị định 134 để phục vụ đảm bảo an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp đặc biệt khác để đảm bảo cơ sở pháp lý trong quá trình thực hiện, phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đồng thời xử lý vướng mắc trong thời gian vừa qua.

Đặc biệt, ở Nghị định 134 không quy định hồ sơ thủ tục miễn thuế XK đối với mặt hàng trầm hương được sản xuất từ cây dó bầu trồng và mặt hàng da trăn có nguồn gốc từ gây nuôi sinh sản; nông sản chưa qua chế niến do phía Việt Nam hỗ trợ đầu tư, trồng tại Campuchia NK về nước.

Đại diện Cục Thuế XNK lưu ý, Nghị định 18 bổ sung quy định này trên cơ sở kế thừa các quy định tại Thông tư 90/2011/TT-BTC ngày 20/6/2011 của Bộ Tài chính quy định miễn thuế XK đối với mặt hàng trầm hương được sản xuất, tạo ra từ cây dó bầu trồng; Thông tư 201/2012/TT-BTC ngày 16/11/2012 của Bộ Tài chính quy định miễn thuế NK đối với hàng hoá là nông sản chưa qua chế biến do phía Việt Nam hỗ trợ đầu tư, trồng tại Campuchia NK về nước; Thông tư 81/2013/TT-BTC ngày 19/6/2013 sửa đổi, bổ sung Thông tư 201/2012/TT-BTC; Thông tư 116/2013/TT-BTC ngày 20/8/2013 của Bộ Tài chính quy định miễn thuế XK đối với mặt hàng da trăn có nguồn gốc từ gây nuôi sinh sản.

Cùng với đó, Nghị định 18 đã bổ sung các quy định miễn thuế đối với hàng hóa có giá trị tối thiểu, hàng hóa gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh được nêu tại Điều 29 Nghị định 134. Đại diện Cục Thuế XNK cho rằng, theo quy định tại Điều 52 Luật Hải quan sử dụng khái niệm DN cung cấp dịch vụ bưu chính, DN kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. Tuy nhiên, tại Nghị định 134 quy định hàng hóa gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh được hưởng mức miễn thuế 1 triệu đồng và không hạn chế số lần trong năm. Vì vậy, để đảm bảo công bằng giữa DN bưu chính, DN chuyển phát nhanh (đang hoạt động theo Luật Bưu chính), Nghị định 18 đã bổ sung “hàng hóa gửi qua dịch vụ bưu chính” được hưởng định mức miễn thuế giống DN chuyển phát nhanh.

Cũng tại Điều 29 Nghị định 134 không quy định miễn thuế đối với hàng hóa XNK theo điều ước quốc tế. Do đó, Nghị định 18 đã sửa đổi thẩm quyền xác định chủng loại và định lượng hàng hóa miễn thuế từ Thủ tướng Chính phủ thành giao trách nhiệm cho cơ quan đề xuất ký hoặc gia nhập Điều ước quốc tế xác nhận danh mục miễn thuế để giải quyết vướng mắc, giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian thẩm định hồ sơ và thời gian phê duyệt miễn thuế, tạo thuận lợi về thủ tục hải quan cho các dự án thuộc các Điều ước quốc tế mà Chính phủ hoặc Nhà nước Việt Nam đã ký kết.

Nghị định 18 cũng bổ sung quy định về thủ tục xác nhận hàng hóa NK miễn thuế trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định chủng loại, định lượng hàng hóa miễn thuế để minh bạch về thủ tục hành chính. Bổ sung quy định về thủ tục thông báo Danh mục miễn thuế, trách nhiệm của cơ quan Hải quan nơi tiếp nhận Danh mục miễn thuế; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân thông báo Danh mục miễn thuế thực hiện theo quy định tại khoản 4, khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 30 Nghị định này để đảm bảo công tác quản lý của cơ quan Hải quan nhằm xác định đúng đối tượng, đúng hàng hóa NK miễn thuế và thống nhất với cách thức quản lý của hàng hóa miễn thuế của dự án đầu tư.

Theo Báo Hải quan