Kể từ ngày 25/4, áp dụng quy định không thu thuế XNK với nhiều trường hợp

Nghị định 18/2021/NĐ-CP ngày 11/3/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 134/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế XK, thuế XK đã bổ sung quy định về các trường hợp không thu thuế XNK.

Theo đó, tại khoản 19 Điều 1 Nghị định 18/2021/NĐ-CP bổ sung Điều 37a Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định về không thu thuế XNK đối với các trường hợp.

Trong đó, sẽ không thu thuế đối với hàng hóa thuộc đối tượng hoàn thuế nhưng chưa nộp thuế theo quy định tại Điều 33, 34, 35, 36, 37 Nghị định 134/2016/NĐ-CP. Không thu thuế đối với hàng hoá không phải nộp thuế XNK quy định tại Điều 33, 34 Nghị định 134/2016/NĐ-CP.

Cụ thể, không thu thuế đối với hàng hoá thuộc đối tượng hoàn thuế đối với hàng hóa XK phải tái nhập; hoàn thuế đối với hàng hóa NK phải tái xuất.

Hoàn thuế đối với máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của các tổ chức, cá nhân được phép tạm nhập, tái xuất; hoàn thuế đối với hàng hóa NK để sản xuất, kinh doanh nhưng đã XK sản phẩm.

Hoàn thuế đối với trường hợp người nộp thuế đã nộp thuế XNK nhưng không có hàng hóa XNK hoặc XNK ít hơn so với hàng hóa XNK đã nộp thuế; không hoàn thuế đối với trường hợp có số tiền thuế tối thiểu.

Hoạt động nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng. 	Ảnh: H.Nụ
Hoạt động nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng. Ảnh: H.Nụ

Không thu thuế đối với hàng hóa không phải nộp thuế XNK quy định về: hoàn thuế đối với hàng hóa XK phải tái nhập; hoàn thuế đối với hàng hóa NK phải tái xuất.

Tại khoản này cũng hướng dẫn hồ sơ không thu thuế. Theo đó, người nộp thuế có công văn yêu cầu không thu thuế XNK đối với hàng hóa NXK gửi qua Hệ thống xử lý dữ liệu của cơ quan Hải quan theo các tiêu chí tại mẫu số 02 phụ lục VIIa hoặc công văn yêu cầu không thu thuế theo mẫu số 09a phụ lục VII (1 bản chính).

Quy định cũng chỉ rõ, đối với trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng hoàn thuế nhưng chưa nộp thuế quy định tại Điều 33, 34, 35, 36, 37 Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì ngoài công văn yêu cầu không thu thuế, người nộp thuế nộp hồ sơ tương tự như hồ sơ hoàn thuế. Người nộp thuế nộp hồ sơ không thu thuế cho cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục XNK hàng hóa tại thời điểm làm thủ tục hải quan hoặc sau khi hàng hóa đã thông quan.

Thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ không thu thuế, đối với trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng hoàn thuế nhưng chưa nộp thuế quy định tại Điều 33, 34, 35, 36, 37 Nghị định 134/2016/NĐ-CP, thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ không thu thuế thực hiện như thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ hoàn thuế.

Đối với trường hợp không thu thuế đối với hàng hoá không phải nộp thuế XNK quy định tại Điều 33, 34 Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì trường hợp tờ khai hàng hóa XNK lần đầu của lô hàng không phát sinh số tiền thuế đề nghị hoàn và người nộp thuế nộp hồ sơ không thu thuế tại thời điểm làm thủ tục hải quan, cơ quan Hải quan ra quyết định không thu thuế NK đối với hàng hóa tái nhập, không thu thuế XK đối với hàng hóa tái xuất trong thời hạn làm thủ tục hải quan nếu có đủ cơ sở xác định hàng hóa NK là hàng hóa đã XK trước đây, hàng hóa XK là hàng hóa đã NK trước đây.

Trường hợp tờ khai hàng hóa XNK lần đầu của lô hàng có phát sinh số tiền thuế đề nghị hoàn hoặc tờ khai hàng hóa XNK lần đầu của lô hàng không phát sinh số tiền thuế đề nghị hoàn nhưng người nộp thuế nộp hồ đề nghị không thu thuế sau khi hàng hoá đã thông quan: Thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ không thu thuế thực hiện như thủ tục nộp, tiếp nhận, xử lý hồ sơ hoàn thuế. Cơ quan Hải quan ban hành quyết định không thu thuế lô hàng tái xuất hoặc tái nhập cùng với quyết định hoàn thuế lô hàng XNK đầu. Số tiền thuế đã nộp của lô hàng tái xuất hoặc tái nhập được hoàn trả cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nghị định 18/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ 25/4/2021 và các quy định liên quan đến không thu thuế cũng sẽ được thực hiện triển khai vào ngày này.

Đặc biệt, Nghị định 18/2021/NĐ-CP sẽ bãi bỏ một số nội dung tại Nghị định 134/2016/NĐ-CP gồm: điểm c khoản 3 Điều 8; điểm b khoản 4 Điều 20 và khoản 1 Điều 29 và bãi bỏ quy định tại các Thông tư 90/2011/TT-BTC, Thông tư 201/2012/TT-BTC, Thông tư 81/2013/TT-BTC và Thông tư 116/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính; bãi bỏ Điều 5 Thông tư 83/2016/TT-BTC…

Theo Báo Hải quan