Cập nhật giá hồ tiêu (26/11)

Giá tiêu hôm nay ở khu vực Tây Nguyên và miền Nam giảm mạnh 1.000 – 2.000 đồng/kg ngay từ đầu tuần xuống 55.000 – 57.000 đồng/kg.

Tỉnh /huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua Đơn vị: VNĐ/kg
ĐẮK LẮK
— Ea H’leo 55,000
GIA LAI
— Chư Sê 55,000
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa 55,000
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
— Tiêu 57,000
BÌNH PHƯỚC
— Tiêu 56,000
ĐỒNG NAI
— Tiêu 55,000
Nguồn: tintaynguyen.com

Do thời tiết bất thường, mưa nhiều khiến dịch hại phát triển, trong đó có các bệnh hại rễ do nấm và tuyến trùng gây ra bệnh chết nhanh, chết chậm đối với cây tiêu ở nhiều tỉnh trên cả nước.

Bên cạnh đó, việc sản xuất theo phong trào cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, chỉ cần có tác nhân là dịch bệnh bùng phát.

Trước tình trạng này, cơ quan quản lý khuyến cáo người dân cần có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý. Theo đó, đối với các vùng đã xảy ra dịch bệnh, không tiếp tục trồng cây tiêu, mà chuyển sang các cây trồng, vật nuôi có hiệu quả. Đồng thời, nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức từ các loại cây trồng, mô hình hiệu quả, kỹ thuật chăm sóc… để chủ động trong sản xuất.

Cập nhật giá cà phê

Giá cà phê hôm nay (2/11) giảm nhẹ 100 đồng/kg ở khu vực Tây Nguyên trong khoảng 34.500 – 35.200 đồng/kg, theo dữ liệu từ tintaynguyen.com. Trong đó, giá cà phê cao nhất ở các tỉnh Đắk Lắk và thấp nhất tại Lâm Đồng.

Giá cà phê ở 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Nông, và Kon Tum đồng loạt giảm 100 đồng/kg trong khi 2 tỉnh còn lại ghi nhận giá không đổi.

Tỉnh /huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua Đơn vị: VNĐ/kg
LÂM ĐỒNG
— Bảo Lộc (Robusta) 34,600
— Di Linh (Robusta) 34,500
— Lâm Hà (Robusta) 34,500
ĐẮK LẮK
— Cư M’gar (Robusta) 35,200
— Ea H’leo (Robusta) 35,200
— Buôn Hồ (Robusta) 35,100
GIA LAI
— Ia Grai (Robusta) 35,100
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa (Robusta) 35,000
KON TUM
— Đắk Hà (Robusta) 35,000
HỒ CHÍ MINH
— R1 36,700
Nguồn: tintaynguyen.com

Theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương Ấn Độ, nhập khẩu cà phê của nước này trong 9 tháng năm 2018 đạt 66.000 tấn, trị giá 108 triệu USD, tăng 12% về lượng, nhưng giảm 4,5% về trị giá so với 9 tháng năm 2017.

Trong 9 tháng năm 2018, Việt Nam là thị trường cung cấp cà phê lớn nhất cho Ấn Độ với tốc độ tăng trưởng 31,7% về lượng và tăng 8,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, với tốc độ tăng trưởng 2 con số, thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Ấn Độ tăng từ 59,8% trong 9 tháng năm 2017, lên 70,4% trong năm 2018.

Cục nhận định Ấn Độ là thị trường xuất khẩu tiềm năng lớn đối với ngành cà phê Việt Nam. Nhập khẩu cà phê của Ấn Độ được dự báo sẽ tăng mạnh nhờ nhu cầu tiêu thụ cà phê rang xay duy trì ở mức cao, đặc biệt tỷ lệ cà phê hòa tan trong những năm gần đây đã có sự điều chỉnh phù hợp với người tiêu dùng trẻ tuổi.

Bên cạnh đó, thị hiếu tiêu dùng của người dân Ấn Độ đã có sự thay đổi, cà phê hiện đã có sức cạnh tranh với trà, thức uống đã từng chiếm ưu thế trong đời sống sinh hoạt của người dân nước này. Ngoài ra, ngày càng có nhiều gia đình sử dụng các loại đồ uống có sẵn và việc gia tăng thu nhập giúp cho tiêu thụ cà phê tăng nhanh.

Nhập khẩu cà phê của Ấn Độ từ các thị trường Uganda, Indonesia giảm mạnh. Đáng chú ý, nhập khẩu cà phê của Ấn Độ từ Kenya tăng tới 1.698% về lượng nhưng tăng 1.413% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017, đạt 6.300 tấn, trị giá 9,23 triệu USD.

Thị phần cà phê của Kenya tại Ấn Độ cũng tăng từ mức 0,6% trong 9 tháng năm 2017, lên 9,6% trong 9 tháng năm 2018; trong khi thị phần cà phê của Uganda và Indonesia giảm.

Giá cà phê nhập khẩu bình quân của Ấn Độ 9 tháng năm 2018 ở mức 1,6 USD/kg, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, giá nhập khẩu bình quân cà phê từ Việt Nam đạt mức 1,6 USD/kg; Kenya và Uganda đều là 1,5 USD/kg; Indonesia là 1,9 USD/kg.

Cập nhật giá cao su

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), giá cao su giao tháng 3/2019 lúc 9h45 ngày 28/11 (giờ địa phương) tăng 0,2% lên 152,8 yen/kg.

Sản lượng cao su tự nhiên của Malaysia trong tháng 9 giảm 22% so với tháng 8, xuống 49.022 tấn và giảm 6,1% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu cao su tự nhiên của Malaysia trong tháng 9 đạt 52.365 tấn, giảm 9,2% so với tháng 8, nhưng tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc (chiếm 49,4%), Đức (chiếm 16,8%), Phần Lan (chiếm 5,4%),Hàn Quốc (chiếm 3%) và Thổ Nhĩ Kỳ (chiếm 2,8%).

Trong tháng 9, Malaysia nhập khẩu 79.811 tấn cao su tự nhiên, tăng 3,3% so với tháng 8, nhưng giảm 20,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Tiêu thụ cao su tự nhiên nội địa của Malaysia trong tháng 9 cũng giảm 4,1% so với tháng 8, xuống còn 41.219 tấn, nhưng so với cùng kỳ năm 2017 tăng 1,9%.

Cao su tự nhiên của Malaysia được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp găng tay cao su với mức tiêu thụ 31.454 tấn, chiếm 76,3% tổng lượng tiêu thụ cao su tự nhiên của Malaysia. Dự trữ cao su thô tại Malaysia tính đến cuối tháng 9 đạt 179.844 tấn, giảm 2,3% so với tháng 8 và giảm 7,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo VietnamBiz