Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Cơ hội của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Cơ hội của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới - Ảnh 1.

Khi tham gia vào các FTA thế hệ mới, Việt Nam có nhiều cơ hội. Cụ thể là về chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Cơ hội của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới - Ảnh 1.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chứng kiến Lễ ký Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA). Ảnh: Thống Nhất-TTXVN

Cơ hội của Việt Nam trong các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới là tựa đề bài viết của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh dành riêng cho cuốn sách “Dự báo 2020: Phá hủy/Tái thiết” do TTXVN xuất bản, mua bản quyền nội dung của tổ chức truyền thông quốc tế Project Syndicate.

TTXVN trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài viết:

Thời gian vừa qua, kinh tế Việt Nam đã chứng kiến những bước tiến đáng kể nhờ việc đẩy mạnh mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực tham gia mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do (FTA).

FTA đang được coi là trào lưu phát triển mạnh trong thời gian gần đây, đặc biệt trong bối cảnh Vòng đàm phán Đô-ha trong khuôn khổ WTO gần như không có tiến triển. Một xu hướng mới đã và đang phát triển và ngày càng được nhiều nước đàm phán, ký kết và thực thi là các FTA thế hệ mới.

Các FTA thế hệ mới có phạm vi và mức độ cam kết cao hơn so với các FTA thông thường. Nếu trong các FTA thông thường, các lĩnh vực cam kết chỉ là những lĩnh vực vốn đã và đang được điều chỉnh bởi các hiệp định của WTO, ví dụ như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, quy tắc xuất xứ…thì với các FTA thế hệ mới, phạm vi cam kết được mở rộng sang những lĩnh vực mới khác, mang tính “phi truyền thống” như mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước, thương mại trong mối quan hệ với môi trường, lao động, thương mại điện tử…

Về mức độ cam kết, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan đối với hàng nhập khẩu trong các FTA thế hệ mới thường lên đến gần 100% trong khi các FTA thông thường có tỷ lệ thấp hơn. Điển hình cho FTA thế hệ mới là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)…

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 2 FTA thế hệ mới là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA giữa Việt Nam và EU (EVFTA).

Về Hiệp định CPTPP kế thừa Hiệp định TPP, Việt Nam cùng 10 nước bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, Nhật Bản, New Zealand, Peru và Singapore đã ký Hiệp định CPTPP tại Chile vào ngày 8 tháng 3 năm 2018. Hiệp định đã chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam vào ngày 14 tháng 01 năm 2019.

Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP: điều chỉnh rất nhiều vấn đề từ thương mại truyền thống như mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư đến các vấn đề ít truyền thống hơn như: mua sắm của các cơ quan Chính phủ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước và mở rộng ra cả các vấn đề được coi là phi truyền thống trong đàm phán, ký các FTA như: lao động, môi trường, chống tham nhũng trong thương mại và đầu tư.

Tuy nhiên, CPTPP cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ có mức độ cam kết cao trong các lĩnh vực như: sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm Chính phủ, dịch vụ tài chính… để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP.

Mặc dù vậy, về tổng thể, Hiệp định CPTPP vẫn được đánh giá là một FTA chất lượng cao và toàn diện với mức độ cam kết sâu nhất từ trước đến nay.

Đối với Hiệp định EVFTA, Hiệp định này được Lãnh đạo Việt Nam và EU tuyên bố kết thúc đàm phán vào ngày 02 tháng 12 năm 2015. Ngày 30 tháng 6 năm 2019, Hiệp định EVFTA được hai bên ký kết tại Hà Nội. EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU; trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên.

Nếu đưa vào thực thi, hiệp định này sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh.

Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường); quy tắc xuất xứ; hải quan và thuận lợi hóa thương mại; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS); các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT); thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường); phòng vệ thương mại; cạnh tranh; doanh nghiệp nhà nước; mua sắm của Chính phủ; sở hữu trí tuệ; thương mại và phát triển bền vững; hợp tác và xây dựng năng lực; pháp lý-thể chế.

Khi tham gia vào các FTA thế hệ mới, Việt Nam có nhiều cơ hội. Cụ thể là về chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại. Theo đó, tham gia các FTA thế hệ mới sẽ thể hiện mạnh mẽ chủ trương chủ động hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta; khẳng định vai trò và vị thế địa – chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á cũng như Châu Á – Thái Bình Dương; thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khối ASEAN, trong khu vực cũng như trên trường quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình chính trị – an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng và chủ nghĩa bảo hộ ngày càng leo thang.

Về kinh tế, tham gia vào các FTA sẽ tiếp tục thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam với các nước CPTPP và EU, mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là đối với các sản phẩm Việt Nam có thế mạnh. Đối với Hiệp định CPTPP, việc các nước; trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về 0% cho hàng hóa của ta sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu.

Các mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như: nông thủy sản, điện, điện tử đều được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Với mức độ cam kết như vậy, theo nghiên cứu chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 4,04% đến năm 2035.

Theo nghiên cứu nói trên của Ngân hàng Thế giới, với mức độ cam kết như vậy, trong bối cảnh các điều kiện kinh tế căn bản được giữ nguyên, xuất khẩu của Việt Nam có thể sẽ tăng thêm 4,2% và với giả định có sự tăng trưởng về năng suất, mức tăng xuất khẩu sẽ là 6,9% vào năm 2030.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh: Cơ hội của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới - Ảnh 2.

Dây chuyền chế biến sản phẩm tôm xuất khẩu tại nhà máy của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú tỉnh Cà Mau. Ảnh: Vũ Sinh – TTXVN

Đối với Hiệp định EVFTA, hiện tại, xuất khẩu của Việt Nam mới đạt gần 1,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của EU. Trong số đó, chỉ khoảng hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được hưởng mức thuế 0% (kể cả các mặt hàng thuộc Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập GSP).

Đây là con số còn rất khiêm tốn so với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam cũng như quy mô thị trường của EU. Với cam kết cắt giảm thuế trong Hiệp định EVFTA và đặc thù là cơ cấu thương mại bổ sung mạnh mẽ, tiềm năng để hai bên phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế-thương mại sau khi có FTA là rất lớn.

Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, FTA giữa Việt Nam và EU sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm bình quân 6,7% giai đoạn 5 năm đầu thực hiện, 13% giai đoạn 5 năm tiếp theo và 20% giai đoạn 5 năm sau đó.

Tham gia các FTA thế hệ mới sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa quan hệ kinh tế – thương mại, đặc biệt là đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực cụ thể, giúp nền kinh tế ứng phó tốt hơn với các biến động bên ngoài.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có cơ hội về việc tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Hiện, các nước tham gia Hiệp định CPTPP và EVFTA chiếm lần lượt 13,5% và 22% GDP toàn cầu. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước CPTPP đạt hơn 51 tỷ USD trong 8 tháng năm 2019; giữa Việt Nam và EU đạt khoảng 38 tỷ USD tính đến hết tháng 11/2019.

Với quy mô GDP và kim ngạch thương mại này, tham gia các FTA này sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp khi chuỗi cung ứng mới hình thành, là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó bước sang giai đoạn phát triển các ngành điện tử, công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp xanh… Đây là cơ hội rất lớn để nâng tầm nền kinh tế Việt Nam trong 5 – 10 năm tới.

Đối với cơ hội về cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường kinh doanh, cũng như khi tham gia WTO trước đây, tham gia các FTA thế hệ mới, sẽ là cơ hội để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế; trong đó, có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một trong ba đột phá chiến lược mà Đảng đã xác định.

Cùng với việc phê chuẩn Hiệp định CPTPP, Quốc hội cũng đã quyết định việc sửa đổi một số nội dung của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Kinh doanh bảo hiểm là minh chứng cho chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, các cam kết sâu rộng trong lĩnh vực dịch vụ – đầu tư sẽ giúp Việt Nam có thêm cơ hội để hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế tiên tiến, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài.

Tham gia các FTA thế hệ mới cũng hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực như tài chính – ngân hàng, chi tiêu công và nông nghiệp – nông thôn.

Việc kết nối với các đối tác có trình độ công nghệ cao như EU, Nhật Bản, Canada… cũng giúp doanh nghiệp Việt Nam liên thông với các đối tác có công nghệ và năng lực quản lý ở cấp độ tiên tiến nhất trên thế giới. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi và vươn lên để đáp ứng được các đòi hỏi của môi trường cạnh tranh toàn cầu.

Về cơ hội việc làm, thu nhập và phát triển bền vững, tham gia FTA thế hệ mới sẽ tạo ra các cơ hội giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng. Vì vậy, về mặt xã hội, hệ quả là sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo.

Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, CPTPP có thể giúp tổng số việc làm tăng bình quân mỗi năm khoảng 20.000 – 26.000 lao động. Đối với lợi ích về xóa đói giảm nghèo, theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, đến năm 2030, CPTPP dự kiến sẽ giúp giảm 0,6 triệu người nghèo ở mức chuẩn nghèo 5,5 USD/ngày. Tất cả các nhóm thu nhập dự kiến sẽ được hưởng lợi.

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do nói riêng, đặc biệt là các hiệp định thế hệ mới, tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA không phải chỉ mang lại cơ hội mà kèm theo những rủi ro và thách thức.

Đó là thách thức về kinh tế, thách thức về hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế, thách thức trong việc thực thi các cam kết trong những lĩnh vực mới chưa có trong các FTA trước dây như lao động – công đoàn môi trường…

Do vậy, trước mắt trong thời gian tới, Việt Nam cần có những giải pháp hữu hiệu để thực thi có hiệu quả, tận dụng thật tốt các cơ hội mà các FTA này mang lại. Đồng thời, chúng ta sẽ tiếp tục tập trung nguồn lực thúc đẩy việc phê chuẩn Hiệp định EVFTA trong thời gian ngắn nhất nhằm sớm mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp hai bên.

Theo VietnamBiz